Tiến sĩ Đoàn Hương: Người Việt trẻ cần bớt sống ảo và nên học cách mưu sinh

Tiến sĩ Đoàn Hương: Người Việt trẻ cần bớt sống ảo và nên học cách mưu sinh

TRUY CẬP: https://www.facebook.com/BacGiangQueHuongToi.vn để biết thêm nhiều thông tin khác.

Tiến sĩ Khoa học Đoàn Hương đã chia sẻ những cảm xúc về người Việt trẻ, về lối chơi và những con đường để họ có thể lựa chọn.

Thưa Tiến sĩ, những tác động từ xã hội, từ báo chí, từ văn hóa hay là vì điều gì khiến bạn đọc trẻ lại thay đổi, họ sống gấp và thiếu chọn lọc? Họ đọc sách ít đi, thay vào đó là đọc những tin giật gân, hay lướt mạng xã hội.
Thế hệ trẻ ngày nay bị bủa vây bởi rất nhiều loại thông tin, như vậy họ sẽ cần có bộ lọc tin. Khi tin vào nhiều, những người có trí thức hoặc những người có văn hóa cao để lọc tin được thì người ta chỉ đọc những bài cần thôi.
Nhưng mà những bạn trẻ mà chưa có đủ văn hóa cần thiết, chưa có phông văn hóa lớn thì làm sao người ta lọc được, bạ cái gì người ta cũng nhét vào người. Giống như ăn vậy, những người có trình độ khoa học người ta ăn uống rất khoa học, họ nghĩ đến chất này chất kia nhưng đối với những người bình thường thì chỉ ăn lấy no thôi, bạ cái gì người ta cũng chén cả, những cái bị nhiễm độc người ta vẫn ăn vì nếu thấy ngon là người ta ăn. Phải thừa nhận rằng, mạng xã hội, tin giật gân… tất cả những điều đó tác động không hề nhỏ đến người trẻ.
Tôi đã đi nghiên cứu thế hệ trẻ qua các đề tài nhà nước của mình và phát hiện ra người trẻ hôm nay cũng rất thích những tin nghiêm túc và đứng đắn nhưng tin phải cực sâu, phải do các chuyên gia viết thì người ta nghe ngay.
Thế hệ trẻ Việt vẫn háo hức đi tìm những đề tài nghiêm túc vì bản thân tôi được Thành Đoàn và Trung ương Đoàn mời đi rất là nhiều buổi giảng dạy và nói chuyện với thanh niên của Hà Nội, thanh niên của cả nước.
Họ nói chuyện về những vấn đề thậm chí là lý tưởng cách mạng, về văn hóa sống, văn hóa ứng xử thanh niên vẫn rất say mê. Nhưng chúng ta đang thiếu những bài viết nói về vấn đề bạn đọc cần. Người ta cần vấn đề văn hóa sống chẳng hạn. Thí dụ trước những lúc khó khăn người ta phải làm thế nào?

Tiến sĩ khoa học Đoàn Hương
Tiến sĩ khoa học Đoàn Hương
Đối với tương lai, nhiều người trẻ bây giờ cũng hoang mang, không biết sẽ chọn nghề mưu sinh hay chọn nghề theo mơ ước!
Ở nước ngoài người ta dạy gì? Nếu thanh niên gặp khó khăn, tôi nói đơn giản thôi là nếu họ bị thất nghiệp tạm thời trong một giai đoạn nào đó, thì điều đầu tiên là người ta phải tìm ngay một việc để tồn tại rồi sau đó trong quá trình tồn tại ấy mới tiếp tục suy nghĩ đặt kế hoạch cuộc đời dài của mình để đạt được ước mơ.
Ở nước ngoài người ta không chọn lựa công việc, một thạc sĩ có thể đi bán vé xe buýt. Tôi đã gặp một thạc sĩ, anh này trước làm bưu điện nhưng khi đã có mạng, có email rồi tự nhiên thư tín chết, không ai người ta gửi thư viết tay nữa thì anh này thất nghiệp và anh ấy lại đi bán vé xe buýt. Khi anh đó gặp tôi vì muốn tôi giúp đỡ làm tiếp luận án tiến sĩ. Em có thấy không, đi bán vé xe buýt để tồn tại, nuôi vợ con và nuôi chính mình mà vẫn tiếp tục ước mơ.
Cuộc đời một con người phải thế, chứ nhiều bạn trẻ bây giờ cứ đòi là phải được công việc đúng chuyên môn. Đầu tiên là tồn tại đã rồi sau đó mới nuôi ước mơ của mình là hai điều mà con người luôn luôn phải làm.
Một vấn đề khác, có người cho rằng giới trẻ bây giờ họ dường như thiếu tinh tế và thiếu chiều sâu. Thế giới ảo tác động quá nhiều khiến nhiều bạn trẻ mất đi những phạm trù, như Tiến sĩ nói, phông văn hóa?
Không phải đâu. Thực ra là lỗi không phải tại kỹ thuật. Chính tôi cũng dùng mạng, phải cảm ơn mạng Internet vì giúp cho việc nghiên cứu của tôi đơn giản hơn rất nhiều. Thí dụ như trước đây tôi phải tiến hành những chuyến đi xa vất vả thì bây giờ tôi có thể ngồi nhà dự những cuộc họp, những hội thảo quốc tế mà chỉ thông qua mạng thôi. Rồi tôi làm việc với đồng nghiệp quốc tế thông qua mạng, chỉ có đi thực địa hay đi thực tế tôi mới phải đi.
Thế giới cũng dùng Facebook, cũng dùng mạng còn ghê gớm hơn mình nhưng họ không lấy đó làm điều xấu. Vấn đề của các bạn trẻ Việt hiện nay là nghiện Facebook, dành quá nhiều thời gian cho Facebook…
Mạng xã hội hẳn nhiên là con dao hai lưỡi, nó tác động vào đời sống tâm hồn của các bạn trẻ khá sâu đậm khiến họ nhiều khi bị ảo tưởng bản thân?
Mạng xã hội có hai mặt. Mặt tích cực của nó là tạo ra một cộng đồng rất lớn trên toàn thế giới để cho chúng ta có thể quan hệ, biết được suy tư, tình cảm của con người, của nhân loại. Rồi một mặt tích cực nữa là nó giúp chúng ta tập trung những người trẻ lại về một phong trào, chẳng hạn phong trào tình nguyện, phong trào hy sinh, phong trào thiện nguyện nào đó, tập trung rất nhanh.
Rồi thứ ba là nó giúp con người giải đáp những thắc mắc mà bản thân một mình anh không tìm thấy, anh có thể tìm thấy những người bạn ở đó. Nhưng mà bên cạnh đó thì nó lại có rất nhiều hệ lụy, vì nó là một thế giới ảo cho nên là nó dễ cho người hay ảo tưởng về mình.
Anh hùng bàn phím có những người nghĩ là mình nổi tiếng vì mình đã trở thành một người được Facebook hô hào, vì thế mới có những hiện tượng như Bà Tưng, Lệ Rơi. Tưởng là nổi tiếng nhưng đó thực sự là hiện tượng tai tiếng. Con người thực sự không ai sống bằng thế giới ảo được mà chúng ta phải sống trong thế giới thật, phải giúp đỡ những con người thật.
Có cách nào để thay đổi điều đó không ạ?
Muốn thay đổi điều đó thì vấn đề là văn hóa. Đây chính là văn hóa ứng xử. Con người ta phải có ứng xử đúng mực với cuộc sống và cái này thì chúng ta phải giáo dục cho thanh niên hôm nay.
Hai là vấn đề học tập. Thanh niên Việt Nam chúng ta hiện nay lười quá. Khi tôi sang dạy ở trường Đại học Khoa học Hoàng gia Úc, ở các trường đại học họ làm việc từ 8h sáng cho đến 10 giờ tối mới rời khỏi trường, kể cả sinh viên. Ngoài giờ lên lớp, người ta lên thư viện ngồi. Các lớp học thêm, bổ túc đại học cũng tồn tại ở đó cho đến 10 giờ đêm mới kết thúc. Vì thế cho nên ưu tiên thứ hai là học tập. Nếu bạn nào có bằng cử nhân rồi thì phải học lên thạc sĩ, tiến sĩ.
Thứ ba, đó là học ngoại ngữ, nếu không học ngoại ngữ chúng ta là người câm điếc trên thế giới.
Thứ tư là vấn đề văn hóa đọc và thứ năm là vấn đề rèn luyện thể lực. Đấy là 5 vấn đề ứng xử với bản thân mình. Nếu không có sức khỏe thì tất cả ước mơ của anh sẽ trở thành gạch lát âm phủ. 5 vấn đề ấy tôi cho là văn hóa. Một khi người ta đã đầu tư vào 5 vấn đề thì sẽ chẳng có thời giờ lướt Facebook và mạng nhiều nữa, trừ khi người ta nghiên cứu hoặc là trả lời bạn bè.
Bằng kinh nghiệm trong nghề giáo của mình, cô có lời khuyên nào dành cho các bạn trẻ, nên vừa học vừa chơi, nên tập trung hoàn toàn vào việc học khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hay nên vừa học vừa đi làm để có kinh nghiệm khi ra trường?
Tôi nghĩ rằng là sinh viên nên tranh thủ đi làm thêm, nhưng nếu làm được những việc phù hợp với chuyên môn của mình thì tốt. Ví dụ dân báo chẳng hạn, đi đến các toà soạn làm thêm. Họ vừa được kinh nghiệm để tích lũy, vừa mở mang học hành.
Các cụ nói “học đi đôi với hành”, ta vừa có thể “hành’ được vừa có thêm một số thu nhập thì tôi nghĩ đó là tốt nhất. Sinh viên nước ngoài người ta vẫn đi làm thêm, chẳng có vấn đề gì.
Cảm ơn Tiến sĩ.
Theo Ngọc Đinh (Lao động)
Admin #ĐQN Tổng hợp
Đêm 14/02/2016: Không khí lạnh mạnh đổ bộ miền Bắc

Đêm 14/02/2016: Không khí lạnh mạnh đổ bộ miền Bắc

[BGQHT] - Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương cho biết, từ đêm 14/2 không khí lạnh từ phương Bắc tràn xuống Đông Bắc Bộ.
Theo dự báo sau khi tràn xuống Đông Bắc Bộ sau đó không khí lạnh tiếp tục xâm lấn Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và một số nơi ở Nam Trung Bộ, gây mưa nhỏ vài nơi. Riêng các tỉnh Trung Trung Bộ có mưa rào.
Dù không khí lạnh rất mạnh, nhưng do nền nhiệt miền Bắc và Bắc Trung Bộ đang cao nên không thể khiến khu vực này quay lại những ngày rét đậm, rét hại như cuối tháng 1.
Ảnh minh họa
Không khí lạnh mạnh nhưng mức độ rét không như thời gian qua
Dự báo, rét nhất là vào các ngày 16-18/2, Hà Nội chỉ 13-17 độ C, trong ngưỡng rét đậm. Khu vực núi cao trên 1.500 m có thể chỉ 3-6 độ C.
Không khí lạnh khiến vịnh Bắc Bộ và bắc biển Đông (gồm cả vùng biển quần đảo Hoàng Sa) có gió đông bắc mạnh cấp 6-7, giật cấp 8-9, tương đương cấp gió áp thấp nhiệt đới. Từ đêm 15/2, giữa biển Đông và ngoài khơi từ Ninh Thuận đến Cà Mau có gió đông bắc mạnh cấp 6, giật cấp 7-8, sóng biển cao 2-4 m.
Trước đó, từ ngày 7/2 đến nay, người dân miền Bắc và Bắc Trung Bộ đón Tết trong thời tiết đẹp, nắng hanh ban ngày, nhiệt độ cao nhất lên tới 29 độ C; ban đêm chỉ 8-15 độ C. Trời không mưa, độ ẩm không khí xuống thấp, nhiều nơi dưới 50%. Kiểu thời tiết này còn duy trì đến ngày 14/2.
Admin #ĐQN
Sơ lược về tỉnh Bắc Giang
TTBG - Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam. Về quy hoạch kinh tế trước đây Bắc Giang nằm trong vùng trung du và miền núi phía bắc, từ năm 2012 là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Bắc Giang giáp với nhiều tỉnh thành, phía bắc giáp Lạng Sơn, phía đông giáp Quảng Ninh, phía tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương. Tỉnh lỵ là thành phố Bắc Giang, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50 km.

ĐỊA LÝ
Vị trí: Là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương.

Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam. Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%; còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác.

Bắc Giang có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía bắc với châu thổ sông Hồng ở phía nam. Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là núi đồi nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều. Khu vực phía bắc tỉnh là vùng rừng núi. Bắc Giang nằm kẹp giữa hai dãy núi hình cánh cung và cùng mở ra như nan quạt, rộng ở hướng đông bắc, chụm ở phía tây nam (tại vùng trung tâm tỉnh), là: cánh cung Đông Triều và cánh cung Bắc Sơn, phần giữa phía đông tỉnh có địa hình đồi núi thấp là thung lũng giữa hai dãy núi này. phía đông và đông nam tỉnh là cánh cung Đông Triều với ngọn núi Yên Tử nổi tiếng, cao trung bình 300–900 m so với mặt biển, trong đó đỉnh cao nhất là 1.068 m; phía tây bắc là dãy núi cánh cung Bắc Sơn ăn lan vào tới huyện Yên Thế, cao trung bình 300–500 m, chủ yếu là những đồi đất tròn trĩnh và thoải dần về phía đông nam. Tại vùng núi phía đông bắc tỉnh, giáp với Quảng Ninh có khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ rộng 7153 ha với hệ động vật và thực vật phong phú, bao gồm 236 loài cây thân gỗ, 255 loài cây dược liệu, 37 loài thú, 73 loài chim và 18 loài bò sát.

Trên địa bàn Bắc Giang có 374 km sông suối, trong đó ba sông lớn là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu. Sông Lục Nam chảy qua vùng núi đá vôi nên quanh năm nước trong xanh. Sông Thương bắt nguồn từ hai vùng có địa hình và địa chất khác nhau nên nước chảy đôi dòng: bên đục, bên trong.

Ngoài sông suối, Bắc Giang còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần. Hồ Cấm Sơn năm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, dài 30 km, nơi rộng nhất 7 km và chỗ hẹp nhất 200m. Hồ Cấm Sơn có diện tích mặt nước 2.600 ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3.000 ha. Hồ Khuôn Thần có diện tích mặt nước 240 ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng thông 20 tuổi. Người ta có thể dạo chơi trên hồ Khuôn Thần bằng thuyền đạp chân hoặc thuyền gắn máy, vừa cùng người Sán Chỉ, Cao Lan, Nùng bản địa hát soong hao, vừa thưởng thức những sản phẩm độc đáo của địa phương như hạt dẻ, mật ong và rượu tắc kè.

DÂN SỐ VÀ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Bắc Giang có 1.555.720 người, với mật độ dân số 407 người/km², gấp 1,7 lần mật độ dân số bình quân của cả nước. Trên địa bàn Bắc Giang có 6 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm 4,5%; người Tày 2,6%; người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5%.

LỊCH SỬ
Thời vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Bắc Giang thuộc bộ Võ Ninh.
Đời Lê, đây là phủ Bắc Hà, năm 1822 đổi là phủ Thiên Phúc, đến đời Tự Đức là phủ Đa Phúc.

Từ ngày 5 tháng 11 năm 1889 đến ngày 9 tháng 9 năm 1891 đã tồn tại tỉnh Lục Nam. Tỉnh Lục Nam gồm các huyện Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Lục Nam, Hữu Lũng (tách từ phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh, ở bên tả ngạn sông Thương) và huyện Yên Bái (tách từ tỉnh Lạng Sơn). Năm 1891 sau khi trả hai huyện Bảo Lộc và Phượng Nhỡn cho tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Lục Nam bị xóa bỏ để nhập vào Đạo Quan binh I.

Tỉnh Bắc Giang được thành lập ngày 10 tháng 10 năm 1895, tách từ tỉnh Bắc Ninh, bao gồm phủ Lạng Giang, phủ Đa Phúc và các huyện Kim Anh, Yên Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế và một số tổng nằm ở phía nam sông Lục Nam. Tỉnh lỵ là Phủ Lạng Thương (nay là thành phố Bắc Giang). Năm 1896, phủ Đa Phúc và huyện Kim Anh được trả lại cho tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1950, tỉnh Bắc Giang thuộc Liên khu Việt Bắc (1949-1956) và gồm 7 huyện: Hiệp Hoà, Lục Ngạn, Yên Thế, Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng, Hữu Lũng.

Ngày 22 tháng 2 năm 1955, huyện Sơn Động từ tỉnh Quảng Yên trả về tỉnh Bắc Giang.

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, khi thành lập Khu tự trị Việt Bắc, huyện Hữu Lũng sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc.

Ngày 21 tháng 1 năm 1957, chia 2 huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam.

Ngày 6 tháng 11 năm 1957, chia huyện Yên Thế thành 2 huyện: Yên Thế và Tân Yên.

Năm 1959, đổi tên thị xã Phủ Lạng Thương thành thị xã Bắc Giang.

Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Bắc Giang nhập với Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc và đến ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Bắc Giang có tỉnh lị là thị xã Bắc Giang và 9 huyện: Hiệp Hòa, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng, Yên Thế.

Ngày 7 tháng 6 năm 2005, chuyển thị xã Bắc Giang thành thành phố Bắc Giang.[2]

VĂN HÓA
Văn hóa Bắc Giang có các điểm đặc trưng sau:

Tính chất đan xen đa văn hóa. Đan xen không phải hòa đồng mà tất cả cùng tồn tại tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Bắc Giang.
Tính chất tụ hội văn hóa người Việt. Trong lịch sử lâu dài của đất nước người dân từ nhiều nơi như Thanh Hóa, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên... đã lên đây sinh sống. Họ mang theo tập tục của mình và có những biến đổi theo người dân bản xứ trên đất Bắc Giang và ngược lại người dân Bắc Giang ở trước đó cũng bị những tác động của cư dân mới đến.
Con người Bắc Giang vốn là những cư dân đồng cam cộng khổ, cưu mang nhau vượt qua thiên tai địch họa, khai phá rừng hoang lập làng, lập bản. Tính chất hào hùng còn dễ nhận thấy hơn qua các cuộc bảo vệ đất nước của dòng họ Giáp, họ Thân và đặc biệt hơn là cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
Bắc Giang là sự giao thoa giữa hai miền văn hóa Việt cổ (Bắc Ninh) và văn hóa Tày Nùng (Lạng Sơn). Những người dân tộc Thái, dân tộc Dao… vẫn có nét riêng trong sinh hoạt nhưng họ học tiếng Kinh, mặc quần áo người Kinh.
Văn hóa Bắc Giang là tính chất đoàn kết, sáng tạo. Từ vùng rừng thiêng nước độc cộng đồng dân cư Bắc Giang sinh sống đã tạo nên những vẻ đẹp riêng có cả về văn hóa vật thể và phi vật thể. Bắc Giang có hơn 500 lễ hội lớn nhỏ.
Người dân Bắc Giang tự hào là cái nôi của quan họ cổ với 23 làng ven sông Cầu, tồn tại như một sự kết duyên song song với quan họ ở Bắc Ninh. Đất quan họ Bắc Giang còn là nơi có tục kết chạ từ lâu đời đến nay vẫn tồn tại trong cuộc sống cộng đồng, có đóng góp tích cực làm đẹp thêm đời sống xã hội.

Bắc Giang có chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) - cái nôi đào tạo phật pháp thiền phái Trúc Lâm; chùa Bổ Đà (Việt Yên) phản ánh tính chất cổ kính gần với phật giáo Ấn Độ, đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa) được dựng vào cuối thế kỷ XVI từng được mệnh danh là "Đệ nhất Kinh Bắc". Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trên địa bàn Bắc Giang cách đây khoảng hai vạn năm có người thời đại đồ đá khai phá, sinh sống ở đây. Điều đó được thể hiện qua các di chỉ Bố Hạ (Yên Thế), Chũ, Cầu Cát (Lục Ngạn), Khe Táu, An Châu (Sơn Động). Thời gian tiếp theo các nhà khảo cổ cũng tìm thấy con người thời đại đồ đá mới sinh sống trên vùng đất này qua di chỉ Mai Sưu (Lục Nam), thời đại đồ đồng qua di chỉ Đông Lâm (Hiệp Hòa).

CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH
Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 9 huyện, với 230 xã, phường và thị trấn:

 - Thành phố Bắc Giang: 10 Phường, 6 xã
- Yên Thế: 2 Thị trấn, 19 xã
- Tân Yên: 2 Thị trấn, 22 xã
- Lục Ngạn: 1 Thị trấn, 29 xã
- Hiệp Hòa: 1 Thị trấn, 25 xã
- Lạng Giang: 2 Thị trấn, 21 xã
- Sơn Động: 2 Thị trấn, 21 xã
- Lục Nam: 2 Thị trấn, 25 xã
- Việt Yên: 2 Thị trấn, 17 xã
- Yên Dũng: 2 Thị trấn, 19 xã

KINH TẾ
Nằm trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, liền kề vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, Bắc Giang rất thuận lợi trong phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực.

Bắc Giang đã quy hoạch và triển khai các khu công nghiệp cùng một số cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 1.500 ha, trong đó có một khu công nghiệp đã cơ bản lấp đầy.

Các khu công nghiệp nằm ở phía nam tỉnh Bắc Giang thuộc các huyện Việt Yên và Yên Dũng. Được quy hoạch liền kề nhau, nằm dọc theo đường quốc lộ 1A mới Hà Nội - Lạng Sơn, gần với các đô thị lớn, thuận lợi cả về đường bộ, đường sông, đường sắt và đường hàng không và các cảng sông, cảng biển. Cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km, Sân bay quốc tế Nội Bài 45 km; Cảng Hải Phòng khoảng 110 km và cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan 120 km, có hệ thống hạ tầng tương đối hoàn chỉnh; thuận lợi cả về hệ thống cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông.

Các khu, cụm công nghiệp đó là:

- Khu công nghiệp Đình Trám, diện tích 100 ha;
- Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng, diện tích 180 ha;
- Khu công nghiệp Quang Châu, diện tích 426 ha;
- Khu công nghiệp Vân Trung, diện tích khoảng 442 ha;
- Khu công nghiệp Việt Hàn diện tích 100 ha, giai đoạn hai mở rộng tới 200 ha.
- Cụm công nghiệp cơ khí ô tô Đồng Vàng, diện tích khoảng 38 ha.
- Ngoài các khu, cụm công nghiệp trên, hiện nay tỉnh Bắc Giang dự kiến quy hoạch một số khu, cụm công nghiệp khác, tập trung ở các huyện Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hòa và huyện Lạng Giang với diện tích các khu khoảng từ 200 ha đến trên 1.000 ha.

Bắc Giang đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; quan tâm đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp và đặc biệt chú trọng cải cách thủ tục hành chính theo hướng đảm bảo công khai, minh bạch với cơ chế "một cửa liên thông", nhà đầu tư chỉ cần đến một địa chỉ là Ban quản lý các Khu công nghiệp hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư là được cấp giấy chứng nhận đầu tư, mã số thuế và con dấu.

DANH NHÂN
- Thánh Hùng Linh Công.
- Thánh Thiên Công chúa
- Đoàn Xuân Lôi.
- Trịnh Ngô Dụng.
- Hoàng Hoa Thám.
- Nguyễn Đình Tuân.
- Nguyễn Khắc Nhu.
- Cô Giang tức Nguyễn Thị Giang.
- Bàng Bá Lân.
- Nhà thơ Anh Thơ.
- Cô Bắc tức Nguyễn Thị Bắc.
- Thân Nhân Trung.
- Trạng nguyên Giáp Hải.
- Dương Quốc Cơ
- Sáu Hà.
- Nguyễn Hồng Long.
- Anh hùng Nguyễn Văn Cốc.

DANH LAM THẮNG CẢNH VÀ DU LỊCH
Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử thuộc Quần thể di tích danh thắng Yên Tử đang được 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản thế giới.
- Đình Lỗ Hạnh (Đông Lỗ - Hiệp Hòa) - Đình cổ nhất Kinh Bắc
- Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt
- Chùa Vĩnh Nghiêm (Được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt năm 2015, thuộc làng Đức La - xã Trí Yên huyện Yên Dũng) có bộ Mộc bản kinh phật được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
- Chùa Bổ Đà thuộc xã Tiên Sơn - huyện Việt Yên (Được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt năm 2016), nơi có vườn tháp đẹp và lớn nhất Việt Nam, có bộ mộc bản Kinh Phật của thiền phái Lâm Tế khắc trên gỗ thị cổ nhất Thế Giới.
- Làng nghề Thổ Hà thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên
- ATK2 - An toàn khu dự bị của Trung ương và Xứ ủy Bắc kỳ.
- Bảo tàng Hoàng Hoa Thám và Đồn Phồn Xương ở huyện Yên Thế
- Lăng Dinh Hương ở Hiệp Hòa
- Khu di tích Suối Mỡ và Đền Suối Mỡ huyện Lục Nam
- Thành cổ Xương Giang
- Rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc huyện Sơn Động
- Hồ Cấm Sơn và Khu du lịch Khuôn Thần huyện Lục Ngạn
- Cây Dã hương hơn 1.000 tuổi ở xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, gốc cây Dã hương phải 8 người ôm.
Cây dã hương đình Dương Lâm Tân Yên.

ĐẶC SẢN

Rượu làng Vân
Cái tên làng Vân đã trở thành thương hiệu Làng Vân nổi danh thiên hạ, nơi có thứ rượu đặc biệt không chỉ dân ta ưa xài mà các ông Tây cũng rất khoái.

Rượu Làng Vân là một thứ đặc sản không thể thiếu vào các dịp lễ hội, tết hay làm quà biếu. Rượu được nấu bằng gạo nếp thơm ngon trồng trên cánh đồng làng Vân Xá, xã Vân Hà huyện Việt Yên, cộng thêm men gia truyền bằng các vị thuốc bắc quý hiếm và nghệ thuật nấu rượu tài tình của người làng Vân. Cha truyền con nối, rượu làng Vân nhãn hiệu ‘ông tiên’ nổi tiếng khắp mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài. Từ hàng chục thế kỷ qua hương vị đặc biệt của rượu làng Vân luôn được nhiều du khách chọn mua về làm quà khi lên một vùng Kinh Bắc. Về Vân Hà bạn sẽ được thưởng thức đặc sản rượu làng Vân, thực sự cảm thấy mình ‘‘say" không chỉ bởi những ly rượu mềm môi, thơm nồng mà du khách còn "say" trong những làn điệu dân ca quan họ mượt mà đằm thắm của các liền anh, liền chị bên bờ bắc sông Cầu. Uống rượu và hát quan họ là nét văn hóa truyền thống của người làng Vân. Mỗi khi nâng chén mời nhau ly rượu người làng Vân lại ý tứ và kín đáo bằng việc hát những câu dân ca quan họ để tỏ lòng chân thành của người mời rượu, đó cũng là nét văn hóa đặc trưng của con người vùng Kinh Bắc.

Một nhầm lẫn cho rằng Rượu làng Vân là đặc sản của Bắc Ninh.

Vải thiều Lục Ngạn
Được thiên nhiên ưu đãi, vườn đồi Lục Ngạn có thế mạnh về cây ăn quả và là nơi tập trung trồng vải thiều lớn nhất cả nước. Đất đá son ở đây rất phù hợp với vải thiều nên cây được nuôi dưỡng tươi tốt, lá xanh thẫm, tán cây tròn như những mâm xôi. Đặc biệt, những chùm quả vải chín đỏ mọng, vỏ mỏng căng, hạt rất nhỏ, cùi đầy ngọt lịm, có vị thơm mát, từ lâu trở thành sản vật của quê hương Kinh Bắc, không chỉ nổi tiếng khắp mọi miền quê hương đất nước mà còn được xuất khẩu ra nước ngoài.

Cam sành Bố Hạ
Cam Bố Hạ, giống cam số 1 của đất nước, đã từng nổi tiếng khắp vùng tại các kỳ thi đấu xảo quốc gia được tổ chức ở cố đô Huế, đã từng một thời là niềm tự hào của người dân xứ Bắc.Đây là loại cam thường chín rộ vào dịp Tết Nguyên Đán: quả màu vàng nâu tươi, hình cầu dẹt, tròn trịa, đẹp mắt, cùi dày, da hơi sần. Tùy theo sự chăm bón và mức độ lâu năm của cây mà hàng năm, một cây cam có thể cho từ 50 đến 200 quả. Sự hấp dẫn đặc biệt của loại cam này là mùi thơm đặc trưng, vị ngọt đậm, tép to mọng nước, ruột vàng đỏ, hàm lượng dinh dưỡng rất cao.

Ngày xưa, ở Bố Hạ nhà nghèo cũng có vài chục gốc cam còn nhà giàu thì có đến vài nghìn gốc. Cam cũng là nguồn thu nhập quan trọng và cũng là niềm tự hào của người dân Bố Hạ. Thế mà trải qua những thăng trầm của thời gian, một vùng cam với những giống cam quý đặc sản như vậy đang dần bị thoái hoá, mai một bởi nhiều nguyên nhân.Những người dân trồng cam và lãnh đạo địa phương có tâm huyết với giống cam quý đặc sản này đang day dứt, trăn trở: "tìm cách duy trì phát triển giống cam quý của tổ tiên".

Bánh đa Kế
Bánh đa Kế xuất phát từ làng nghề truyền thống bánh đa xã Dĩnh Kế, Bắc Giang. Điều đặc biệt, cái vị của nó vừa giòn, vừa ngọt của gạo mới và thơm thơm của nắng quê Bắc bộ.Độ nở của chiếc bánh cũng là một đặc điểm để phân biệt.Để ra lò một chiếc bánh đa Kế hoàn hảo phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp. Với bàn tay khéo léo của người dân Dĩnh Kế, kỹ năng quạt bánh thủ công bằng than hoa khiến chiếc bánh luôn luôn nở đều, đầy đặn, tròn vạnh như mặt trăng đêm rằm và không bị cháy sém. Ngoài ra kỹ thuật rắc vừng, lạc sao cho màu đen, màu vàng điểm lốm đốm đều trên bánh.Bánh đa Kế luôn luôn tạo ra được một nét riêng, không thể lẫn vào đâu. Nó trở thành một thứ đặc sản đậm chất đồng quê Bắc Bộ.[10]

Mỳ Chũ
Dù có từ lâu đời nhưng mỳ Chũ chỉ thực sự để lại ấn tượng cho người ăn cách đây vài năm. Khi mới xuất hiện, thứ mỳ gạo này ít được biết đến, tuy nhiên theo thời gian, cùng với những ưu điểm nổi trội như cái ngọt của bột bao thai hồng, sợi mỳ dai không bị nhừ nát mà loại mỳ của thị trấn Chũ đã có tên và được biết đến trong cuộc sống đời thường của người dân quanh vùng. Không chỉ có thế, mỳ Chũ đã trở thành món quà quê đặc sản người dân nơi đây là quà biếu cho khách và người quen ngoài tỉnh.

CÁC CA KHÚC TIÊU BIỂU VỀ BẮC GIANG
1 Bắc Giang màu xanh yêu thương - ST: Phan Huấn
2 Bắc Giang tôi yêu- ST: Trí Vượng
3 Mùa vải thiều - ST: Tuấn Khương
4 Chiều sông thương - ST: An Thuyên
5 Nhớ về vùng đất dân ca - ST: Tuấn Khương
6 Rừng xanh Yên Thế - ST: Trọng Điềm;
7 Rượu Làng vân - Thơ Anh Vũ; Nhạc Tuấn Khương
8 Sông Thương tóc dài - Thơ Hoàng Nhuận Cầm; nhạc Bá Đạt
9 Tình ca Sông Thương - ST: Tuấn Khương
10 Vùng quê Sông Thương - ST: Tuấn Khương
11 Bức tranh Quê hương - ST Trọng Bằng
12 Đêm Bắc Giang nghe em hát dân ca - ST: Trần Hoàn
13 Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa - ST Nguyễn Văn Tý
14 Khuôn Thần tôi yêu; ST Bá Đạt
15 Người xứ Bắc - ST Thế Công
16 Một dáng cầu vồng - ST Trần Minh
17 Hồ trên núi - ST: Phó Đức Phương
18 Tình yêu xin gửi nơi quê - ST: Cát Vận
19 Gửi về sông Lục, núi Huyền - ST: Đỗ Hồng Quân




Theo wikipedia


FULL HD đây các bạn nhé: Hát về Quê hương Bắc Giang (Phần 1)

Nhớ Đăng ký (Subscribe) kênh Youtube của page và like video nha các bạn.
 XEM TẠI LIÊN KẾT NÀY:
[BGQHT] - Hát về Quê hương Bắc Giang (Phần 1)- FULL HD
LINK:  https://youtu.be/LlMhr0jAzrY

QUÝ VỊ CÓ THỂ XEM TẠI VIDEO BÊN DƯỚI