Đêm ngày 22/02/2016, Miền Bắc bước vào đợt rét đậm, rét hại mới

Đêm ngày 22/02/2016, Miền Bắc bước vào đợt rét đậm, rét hại mới

Xem thêm TẠI ĐÂY

Theo dự báo, đêm 22/2/2016, đợt không khí lạnh sẽ ảnh hưởng tới các tỉnh miền Bắc nước ta. Các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ từ ngày 24/2 xảy ra rét đậm, rét hại.
Miền Bắc, đợt rét đậm, rét hại mới
Không khí lạnh tăng cường gây rét đậm rét hại cho các tỉnh miền Bắc.
Chiều 21/2, Trung tâm Dự báo KTTVTƯ cho biết, hiện nay (21/2), bộ phận không khí lạnh đã báo vẫn đang di chuyển xuống phía nam. Dự báo, khoảng đêm mai (22/02), bộ phận không khí lạnh này sẽ ảnh hưởng đến các tỉnh vùng núi  phía Bắc và khu Đông Bắc Bắc Bộ, sau đó ảnh hưởng đến các nơi khác ở phía Đông Bắc Bộ (trong đó có Hà Nội), Tây Bắc Bộ và các tỉnh ven biển Trung Bộ.
Do ảnh hưởng của không khí lạnh từ gần sáng và ngày 23/2 ở Bắc Bộ có mưa nhiều nơi. Các tỉnh ven biển Trung Bộ có mưa, mưa rào và có nơi có dông. Gió chuyển hướng Đông Bắc trong đất liền cấp 3, vùng ven biển cấp 4-5. Ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ từ ngày 24/2 có khả năng xuất hiện rét đậm, vùng núi rét hại.
Dự báo thời tiết cả nước đêm 21, ngày 22/2:
Phía Tây Bắc Bộ: Nhiều mây, có mưa vài nơi, trưa chiều giảm mây trời nắng, gió nhẹ. Đêm và sáng trời rét. Nhiệt độ thấp nhất từ 13 - 16 độ, có nơi dưới 10 độ, nhiệt độ cao nhất từ 21 - 24 độ, riêng khu Tây Bắc có nơi 24 - 26 độ.
Phía Đông Bắc Bộ: Nhiều mây, có mưa vài nơi, sáng sớm có nơi có sương mù, trưa chiều giảm mây trời nắng, gió nhẹ. Đêm và sáng trời rét. Nhiệt độ thấp nhất từ 14 - 17 độ , nhiệt độ cao nhất từ 21 - 24 độ.
Thanh Hóa - Thừa Thiên Huế: Mây thay đổi, đêm có mưa vài nơi, ngày nắng, gió nhẹ. Nhiệt độ thấp nhất từ 15 - 18 độ, nhiệt độ cao nhất từ 23 - 26 độ.
Đà Nẵng đến Bình Thuận: Mây thay đổi, đêm có mưa vài nơi, ngày nắng. Gió đông bắc cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất từ 18 - 21 độ; phía Nam 20 - 23 độ, nhiệt độ cao nhất từ 28 - 31 độ.
Tây Nguyên: Mây thay đổi, đêm không mưa, ngày nắng, gió nhẹ. Nhiệt độ thấp nhất từ 17 - 20 độ, nhiệt độ cao nhất từ 29 - 32 độ.
Nam Bộ: Mây thay đổi, đêm không mưa, ngày nắng. Gió đông bắc đến đông cấp 2-3. Nhiệt độ thấp nhất từ 23 - 26 độ, nhiệt độ cao nhất từ 32 - 35 độ.
Hà Nội: Nhiều mây, không mưa, sáng sớm có nơi có sương mù, trưa chiều giảm mây trời nắng. Gió nhẹ. Đêm và sáng trời rét. Nhiệt độ thấp nhất từ 14 - 17 độ, nhiệt độ cao nhất từ 21 - 24 độ.
Theo Gia đình & Xã hội
Admin #ĐQN Tổng hợp
Dấu ấn văn hóa lễ hội đình Vồng - Tân Yên - Bắc Giang

Dấu ấn văn hóa lễ hội đình Vồng - Tân Yên - Bắc Giang

Xem thêm Tại Đây

Đã từ lâu, lễ hội đã trở thành một nhu cầu về tinh thần, một nét đẹp văn hóa không thể thiếu trong đời sống nhân dân mỗi khi Tết đến xuân về. Cùng với nhiều lễ hội khác, lễ hội đình Vồng ở xã Song Vân, huyện Tân Yên (Bắc Giang) luôn tạo dấu ấn đậm nét trong đời sống văn hóa tinh thần của vùng đất Yên Thế xưa.
 
Đình Vồng được xây dựng vào năm 1704. Khu di tích có đền thờ vua Bà, đền thờ đức Thánh Cao Sơn-Quý Minh và 18 vị Quận công họ Dương thời nhà Mạc. Thời chống Pháp, nhiều thủ lĩnh phong trào  nông dân Yên Thế thường về đây tế cờ, xin thần linh phù hộ để làm lễ xuất quân. Năm 2012, cụm di tích Cầu Vồng (gồm đình, chùa, đền, nghè Vồng) được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt: Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế.

Lễ hội đình Vồng được hình thành từ hàng trăm năm trước. Hàng năm, Hội được tổ chức vào ngày 15 và 16 tháng Giêng với các nghi lễ rước sắc về đình ,nghi thức tế lễ trang trọng diễn ra ngay ở sân đình. 

Ấn tượng nhất và đặc sắc nhất trong lễ hội đình Vồng là lễ tế ngựa truyền thống với bài tế độc đáo mang đậm tinh thần thượng võ, tái hiện nét đẹp văn hóa cổ truyền của vùng đất và con người Cầu Vồng vào những năm 1890. 
Tái hiện lễ tế ngựa

Trong lễ tế ngựa, lễ vật dâng lên là những sản vật được làm ra từ bàn tay khéo léo của nhân dân địa phương như bánh chưng, bánh dày, rượu trắng. Ngoài ra trong lễ tế còn có nước và lửa. 
Khi văn tế đã hoàn tất, lời cầu nguyện của muôn dân được linh ứng, chủ tế thực hiện nghi thức hóa lễ để gửi đến thánh thần những ước nguyện và lòng thành kính của muôn dân. Tiếp đến là màn biểu diễn vật thờ, một môn thể thao được hình thành từ rất sớm của dân tộc, tái hiện tinh thần thượng võ của trai Cầu Vồng Yên Thế. 
Dâng lễ vật trong lễ tế ngựa

Sau các nghi lễ trang trọng, các đoàn đại biểu dâng hương trong đình. Ngoài các đại biểu của tỉnh, huyện và du khách thập phương đến thắp hương tại đình, còn có 13 mâm lễ của 13 đoàn đại diện cho 13 thôn của xã, cùng đó là lễ của dòng họ Dương.

Trong lễ hội đình Vồng nhiều môn thi đấu thể thao và các trò chơi dân gian như bóng đá, bóng chuyền, cờ tướng, kéo co, thi nấu cơm, đập niêu, đu quay, bắn cung, cướp cầu...được diễn ra mang những nét riêng biệt trong đời sống văn hóa của vùng đất Cầu Vồng Yên Thế xưa.
Môn vật tại lễ hội đình Vồng

Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, song lễ hội đình Vồng đã tạo dấu ấn đậm nét trong đời sống văn hóa tinh thần của vùng đất Yên Thế xưa, đồng thời biểu dương sức mạnh của cộng đồng làng xã, tạo sự gắn kết mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, góp phần giáo dục truyền thống đối với thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
                                                                                     Theo Công Doanh- Văn Vĩnh (Báo Bắc Giang)
Admin #ĐQN Tổng hợp
Chùa Vĩnh Nghiêm và thiền phái Trúc Lâm một nét văn hóa đặc sắc của văn hóa Việt Nam

Chùa Vĩnh Nghiêm và thiền phái Trúc Lâm một nét văn hóa đặc sắc của văn hóa Việt Nam

Truy cập: Tại Đây để thêm chi tiết
1. Chùa Vĩnh Nghiêm - Một bảo tàng văn hóa Phật giáo Đại thừa tiêu biểu ở miền Bắc nước ta
Theo các nguồn tư liệu như bia ký, thư tịch và kết quả điều tra, thám sát khảo học tại chùa Vĩnh Nghiêm, chùa được khởi dụng từ trước  thời Lý; đến đời vua Lý Thái Tổ, chùa được xây dựng khang trang hơn với tên gọi chùa Chúc Thánh (hay Chúc Thánh thiền tự), dân gian quen gọi là chùa La hay chùa Đức La. Theo bia tháp ghi lại, năm Thuận Thiên Nguyên Niên (1010), vua Lý Thái Tổ cử hai quan trong triều là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạt thiết kế đồ án, lo việc kiến thiết 8 ngôi chùa, trong đó có chùa Vĩnh Nghiêm ngày nay. Chùa được hoàn thành vào năm 1016, vị trụ trì đầu tiên là Thiền Sư Vạn Hạnh, kế tiếp là các vị: Đạo An, Minh Tâm, Bảo Tánh và Huệ Quang.
Quang cảnh sân chùa Vĩnh Nghiêm. Ảnh TTXTDL
Đến đời Trần, chùa Vĩnh Nghiêm phát triển thành một trong bốn trung tâm của Thiền phái Trúc Lâm (gồm Yên Tử, Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm và Thanh Mai), trở thành một Trung tâm Phật giáo để đào luyện tăng ni cả nước trong suốt gần 8 thế kỷ hình thành và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, được ví như Trường Đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam, được các nhà nghiên cứu coi là “Bảo tàng Văn hóa Phật giáo Đại thừa” tiêu biểu ở miền Bắc nước ta. Cả 3 vị Tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang đều thụ giới ở chùa Vĩnh Nghiêm, lấy nơi này làm trung tâm Phật giáo thời Trần. Vì thế, suốt nhiều thế kỷ qua, chùa Vĩnh Nghiêm là nơi để phật tử hành hương về đỉnh Yên Tử huyền thoại, dân gian có câu:
“Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm
Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành”.
Đã có khi nào người ta đặt ra câu hỏi, tại sao khi sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông lại chọn chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang làm nơi đào luyện tăng ni trong cả nước, là một trong bốn Trung tâm Phật giáo Trúc Lâm? Thứ nhất là do vị trí lợi thế của ngôi chùa: Tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn); chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử; bao quanh chùa là núi non, trong đó có núi Cô Tiên; bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc. Lí do thứ hai phải kể đến cái duyên của chùa Vĩnh Nghiêm với Trần Nhân Tông khi Ngài còn tại vị: Tương truyền, khi vua Trần Nhân Tông cùng đoàn tùy tùng đi xem xét, kiểm tra các vị thế trọng yếu của đất nước, đi đến vùng Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, ngựa của vua dừng chân, không đi tiếp, Ngài cho đây là một điềm lạ, hỏi những người dân xung quanh mới biết, gần đây có một ngôi chùa cổ rất thiêng, vua cùng đoàn tùy tùng đã đến tham quan ngôi chùa. Cho rằng đây là cái duyên tiền định giữa Ngài và ngôi chùa, Trần Nhân Tông cho sửa sang, trùng tu, tôn tạo lại, lấy tên là chùa Vĩnh Nghiêm (có nghĩa là mãi mãi tôn nghiêm). Cũng xuất phát từ cái duyên đó, khi sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Trần Nhân Tông đã chọn chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang làm nơi đào luyện tăng ni trong cả nước, là một trong bốn Trung tâm Phật giáo Trúc Lâm.
Có thể nói, từ khi Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông và các đồ đệ chọn chùa Vĩnh Nghiêm làm cơ sở hoằng Pháp, Vĩnh Nghiêm mới đi vào lịch sử gắn liền với Thiền phái Trúc Lâm. Khi Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông cùng 2 đệ tử là Pháp Loa và Huyền Quang sáng lập phái Thiền tông hay còn gọi là dòng thiền Trúc Lâm Tam tổ (là sự kết hợp ba dòng Thiền trước đó: Tỳ ni đa lưu chi, Vô ngôn thông và Thảo đường), mở mang hệ thống chùa tháp dọc theo hai sườn dãy Yên Tử, từ đó lan tỏa xuống vùng đồng bằng Bắc Bộ thì chùa Vĩnh Nghiêm và vùng Yên Tử trở thành trung tâm đào tạo Tăng tài cho cả nước. Vua Trần Nhân Tông thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm đầu tiên, sau đó Pháp Loa kế nhiệm trụ trì; khi Pháp Loa viên tịch, Thiền sư Huyền Quang kế thế thủ tọa, từ đây dòng thiền Trúc Lâm phát triển lớn mạnh. Xuất phát từ chùa Vĩnh Nghiêm, hình thành một giáo hội chính thống, có chủ trương, có tổ chức hành chính, phong hàm giáo phẩm, có điệp đàn Tăng tịch. Lần đầu tiên, Phật giáo có trường đào tạo tu sĩ, có khuynh hướng giáo dục rõ ràng.
Trải qua gần 800 năm lịch sử với bao thăng trầm, cái tên Vĩnh Nghiêm vẫn tồn tại cho đến bây giờ, đúng với ý nghĩa tên gọi của nó. Vĩnh Nghiêm ngày nay đã trở thành trung tâm du lịch tâm linh, có bề dày lịch sử về cơ sở đào tạo Tăng tài đầu tiên của đất nước, có lối kiến trúc đậm nét đặc trưng miền Bắc cổ; nằm ở vị trí non nước hữu tình về mặt cảnh quan, chiếm vị trí địa linh làm nảy nở một dòng Thiền thuần Việt.
Chùa Vĩnh Nghiêm vừa tiếp tục giữ vai trò một trung tâm Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm, vừa giữ vai trò của chốn tổ để các nơi khác cứ đến ngày 14/2 Âm lịch hàng năm lại đổ về đây làm lễ giỗ tổ. Với sự kiện Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được công nhận là Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chùa Vĩnh Nghiêm đã trở thành điểm du lịch tâm linh lý tưởng, là nơi nhân dân cả nước có thể tham quan, chiêm ngưỡng, khám phá và cảm nhận những giá trị văn hóa tinh thần độc đáo, to lớn của Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm.
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm - Giá trị vượt thời gian
Nhà chùa giới thiệu với du khách về kho Mộc bản Kinh phật. Ảnh TTXTDL
Chùa Vĩnh Nghiêm xưa là nơi đào luyện tăng đồ Phật giáo nên là nơi tàng trữ các bộ ván kinh xưa rộng tới 10 gian nhà. Đó là những bộ ván kinh có từ khá lâu đời, là kho sách cổ vô cùng quý giá. Đó là kho ván khắc in, người xưa gọi là “mộc thư khố”, là hiện vật minh chứng chùa Vĩnh Nghiêm từng thống lĩnh 72 chốn tùng lâm. Hiện nay, kho mộc thư vẫn lưu giữ được 09 tác phẩm kinh sách, luật giới của phật giáo với 3.050 bản khắc, mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt 2 trang sách khắc ngược (âm bản) khoảng 2.000 chữ Nôm, chữ Hán. Những bản khắc có niên đại sớm nhất, nhiều sách nhất, chữ chuẩn đẹp nhất và đạt đến độ tinh xảo trong số mộc thư còn lưu giữ được ở nước ta. Từ những ván khắc đó, có thể in ra đủ biên lan, bản tâm, ngư vĩ, thiên đầu, địa cước. Các bản mộc thư chủ yếu ghi chép kinh luật nhà Phật, lịch sử hình thành và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm, trước tác của 3 vị tổ thiền phái là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang; ngoài ra còn có các tác phẩm thơ, phú, nhật ký của Mạc Đĩnh Chi và một số vị cao tăng. Nghiên cứu mộc thư khố, chúng ta có lượng thông tin phong phú, đa dạng về lịch sử Phật giáo, tư tưởng hành đạo, nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm, văn học, phong tục tập quán cùng sự phát triển của nghề khắc in mộc thư, nghệ thuật chạm khắc gỗ cũng như lịch sử phát triển của tiếng Việt.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu Hán - Nôm, bên cạnh giá trị từ hiện vật bảo tàng, các mộc bản kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm chứa đựng nhiều ý nghĩa to lớn về triết lý nhân sinh, tôn giáo tín ngưỡng, văn học, nghệ thuật, giáo dục con người. Không những thế, những mộc bản này còn là “pho sử” sống động về nghề khắc in mộc bản, tư tưởng và văn hóa, giúp người đời sau hiểu một cách đầy đủ, chính xác về lịch sử Phật giáo Việt Nam, về Thiền phái Trúc Lâm cũng như thân thế, sự nghiệp của Phật hoàng Trần Nhân Tông và một số danh nhân của dân tộc.
Ý nghĩa quốc tế:
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là sự đúc kết cô đọng, sâu sắc của Thiền phái Trúc Lâm với tư tưởng thanh thản trong cuộc đời nhiều phong ba bão táp, tự tại trong gian khổ nguy nan, thể hiện chí cả vô cùng, tự phát huy chí dụng nguồn tâm. Tuy đều dựa vào chủ đích “Đả khai và Đốn ngộ” của Thiền tông nhưng những tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm thể hiện sự sáng tạo của người Việt Nam là nêu cao vị trí của người tu hành, dựa vào bản thân để “tu tâm ngộ Phật”.
Những tư tưởng, giáo lý hành đạo của Thiền phái Trúc Lâm đã thấm nhuần sâu sắc và ảnh hưởng lan tỏa sâu rộng trong nước và quốc tế thông qua những đóng góp to lớn của các thiền sư có uy tín trong và ngoài nước. Hiện nay, tại Việt Nam có hàng nghìn ngôi chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Trên thế giới, thiền viện mang đặc trưng tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm cũng phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng đến Phật tử ở các nước sở tại. Phật tử và nhà tu hành không chỉ là người Việt ở hải ngoại mà còn thu hút đông đảo tăng, ni, Phật tử là người có quốc tịch khác nhau. Tất cả các tăng, ni, Phật tử này đều sùng kính, tu trì theo tư tưởng của Phật phái Trúc Lâm có trong Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm.
Thêm vào đó, bằng việc lưu giữ những mẫu chữ Nôm cổ, Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm còn đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn chữ Nôm - thứ văn tự riêng của người Việt Nam. Hiện nay, mẫu chữ Nôm trên mộc bản “Thiền tông bản hạnh” trong bộ Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được sử dụng để cài trên máy tính, được phổ biến trên toàn thế giới. Bất cứ ai học tập, nghiên cứu chữ Nôm Việt Nam trên thế giới đều được tiếp cận và sử dụng để tìm hiểu giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam trong quá khứ.
Nhận thức được những giá trị to lớn của bộ Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, những năm gần đây, UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang và UBND huyện Yên Dũng đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng kho Mộc bản kinh Phật và kiểm kê, sắp xếp theo thứ tự khoa học nhằm tạo điều kiện cho công tác quản lý, bảo tồn kho Mộc bản. Sự kiện Bắc Giang đón nhận Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào ngày 06, 07 tháng 10 năm 2012 đã thu hút sự quan tâm của nhân dân cả nước, góp phần tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Bắc Giang nói chung, chùa Vĩnh Nghiêm, Mộc bản nói riêng, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh của tỉnh, huyện, liên kết phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Lạng Sơn; Hải Dương, Quảng Ninh,…
2. Thiền phái Trúc Lâm - niềm tự hào của văn hóa Việt Nam

Vĩnh Nghiêm vào mùa lễ hội. Ảnh TTXTDL
2.1. Giá trị của Phật giáo Việt Nam
Là tôn giáo du nhập sớm nhất vào Việt Nam, Phật giáo đã nhanh chóng thích ứng với các yếu tố tín ngưỡng bản địa, với phong tục tập quán và lối sống của người Việt Nam. Và do đó, Phật giáo đã tìm được chỗ đứng vững chắc trong mọi mặt đời sống xã hội, cũng như có đóng góp tích cực thúc đẩy quá trình phát triển văn hóa và để lại dấu ấn sâu đậm trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Theo số liệu thống kê của Cục Di sản văn hóa, tính đến cuối năm 2011, cả nước ta có 767 ngôi chùa trên tổng số 3.167 dic tích được xếp hạng cấp quốc gia.
Nhà khoa học Albert Einstein đã nhận xét về giá trị vượt trội của Phật giáo trong thời đại hiện nay: “Nếu có một tôn giáo nào đó đương đầu được với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học, Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt quá khoa học. Phật giáo là chiếc cầu nối liền tôn giáo với các tư tưởng khoa học, cây cầu Phật giáo đã kích thích con người khám phá những tiềm năng lớn lao nằm sâu bên trong chính con người và môi trường sống xung quanh, Phật giáo vượt thời gian và mãi mãi có giá trị”.
Ở Việt Nam, Phật giáo cũng dung nạp được với Nho và Lão tạo thành “Tam giáo đồng nguyên”, “thiết chế tôn giáo tiền Phật hậu Thánh hoặc tiền Thánh hậu Phật”. Phật giáo Việt Nam đã duy trì được sự chung sống hòa bình với gần như tất cả các tôn giáo lớn của nhân loại có mặt ở Việt Nam.
Có thể nói Phật giáo đã góp phần tạo nên nét đa dạng trong văn hóa Việt Nam, và trong chừng mực nào đó Phật giáo đã trở thành yếu tố máu thịt của văn hóa dân tộc, đóng vai trò là thứ “phễu lọc” văn hóa, điểm tựa tâm linh cho người Việt Nam chống lại sự đồng hóa của hệ tư tưởng Nho giáo Trung Hoa trong suốt thời kỳ Bắc thuộc cũng như sau này.
1.2. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - một nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam
Trúc Lâm là thiền phái bản địa đầu tiên của Việt Nam đã thực hiện thành công việc “Việt Nam hóa” các thiền phái ngoại nhập phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước. Thiền phái Trúc Lâm đã dung hội được cả ba thiền phái của Ấn Độ và Trung Hoa thâm nhập vào Việt Nam (Thiền phái Tỳ ni đa lưu chi, Thiền phái Vô Ngôn Thông và Thiền phái Thảo Đường) đặt nền móng cho việc xây dựng và củng cố Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất theo phương châm của Trần Nhân Tông “Chưa rõ thì chia làm ba giáo, hiểu rồi thì cùng một ngộ tâm”. Điểu đó chứng tỏ, Thiền phái Trúc Lâm dung dưỡng được các yếu tố Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa, triết lý Nho giáo và đạo Lão, đồng thời kế thừa và sáng tạo tư tưởng thiền học của các thiền sư Việt Nam mà tiêu biểu là từ Trần Thái Tông và sư phụ là Tuệ Trung thượng sĩ. “Từ tư tưởng thiền tùy tục của Thường Chiếu đến biện tâm của Trần Thái Tông tiến tới hòa quang đồng trần của Thượng sĩ sau cùng là tùy duyên lạc đạo của Trần Nhân Tông”.
Điều đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm được sáng lập bởi Trần Nhân Tông- một ông vua đương triều đã bỏ lại ngai vàng và quyền lực vào núi Yên Tử tu hành rồi chứng ngộ thành Đệ nhất Tổ. Ở Trần Nhân Tông, chúng ta tìm thấy phẩm chất siêu đẳng của một nhân cách lớn, tấm gương đạo đức trong sáng có sức hấp dẫn tới đông đảo công chúng và phật tử đương thời.
Thiền phái Trúc Lâm ra đời đáp ứng được yêu cầu lịch sử đặt ra là phải có hệ tư tưởng độc lập với Trung Hoa, làm chỗ dựa tinh thần để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc – sức mạnh của tinh thần Đại Việt. Do đó chúng ta đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử là dựng nước, giữ nước và mở rộng bờ cõi về phía Nam.
Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm luôn tuân thủ triết lý nhập thế Phật giáo, góp phần xây dựng nhà nước Đại Việt, tham gia “vào gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời”. Bằng tinh thần nhập thế tích cực, các thiền sư Trúc Lâm đã dùng Phật giáo làm phương tiện phò Vua, giúp nước và cứu người. Tinh thần “nhập thế” của Trúc Lâm tam tổ là gắn “đạo với đời” làm cho Phật giáo luôn đồng hành với dân tộc. Với triết lý nhân văn đó, Thiền phái Trúc Lâm đã dung hợp được hai yếu tố “bác học” và “dân gian”, dễ dàng thấm sâu vào tâm thức đông đảo các tầng lớp cư dân trong xã hội. Đó là một thiền phái Phật giáo mang đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc và trở thành “máu thịt của văn hóa Việt Nam. Thực tế lịch sử Đại Việt cho thấy, tư tưởng triết lý của Thiền phái Trúc Lâm là tu dưỡng thân tâm mình để phụng sự lợi ích dân tộc, lợi ích cộng đồng, đất nước có độc lập thì Phật giáo mới có điều kiện hưng thịnh.
Các vị tổ Trúc Lâm đã giản lược hóa việc tu tập mà không câu nệ vào nghi thức. “Bụt ở trong nhà, chẳng phải xa”, “tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương; óc đã là tính sáng soi, mưa phải nhọc nhằn tìm về cực lạc” hay như “biết chân thư, tin bát nhã, chớ còn tìm Phật tổ Tây Đông; chứng thực tướng nên vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiên Nam Bắc”. Thiền phái Trúc Lâm không phân biệt tu sĩ tu ở chùa và cư sĩ tu tại gia. Cả hai hình thức tu tập đều hướng đến mục tiêu chung là tìm lại, thức tỉnh “bản tính Phật” trong tâm của từng cá nhân bằng cách thực hành từ bi và trí tuệ.
Trúc Lâm là một thiền phái thuần Việt, do một vị minh quân người Việt – Trần Nhân Tông sáng lập ra, trên cơ sở kế thừa tư tưởng thiền học của các thiền sư danh tiếng, đức cao, vọng trọng của Việt Nam, kết hợp với những tinh hoa Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa. Có thể coi đây là một thành tựu văn hóa lớn của Việt Nam, góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa của nhân loại nói chung và Phật giáo thế giới nói riêng./.
Theo Dương Văn Quang
Chủ tịch UBND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
ADMIN #ĐQN tổng hợp
Bổ Đà ngôi chùa độc đáo cổ kính nhất vùng Kinh Bắc

TTBG - Kiến trúc của chùa gần một trăm gian liên hoàn được xây dựng  bằng các vật liệu dân gian: gạch nung, ngói, tiểu sành, tường bao được làm bằng đất rất độc đáo. Các bức tường, cổng và một số công trình khác được xây dựng hoàn toàn bằng đất nện theo lối chình tường.

Bắc Giang  vùng đất có truyền thống văn hóa lâu đời, sở hữu một nền văn hóa phong phú, đặc sắc toạ lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng (Bổ Đà Sơn), phía Bắc dòng sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh xưa ). 

Tháng 7, trong cái nắng chang cháng như đổ lửa, tôi có cơ duyên dẫn một đoàn phật tử từ Thủ đô về thăm chùa Bổ Đà –, là một trong những ngôi chùa độc đáo cổ kính và lớn nhất vùng miền đất Kinh Bắc  như câu ca dao xưa:
Thứ nhất là chùa Đức La,
Thứ nhì chùa Bổ, thứ ba chùa Tràng
Được xây dựng vào thời Lê (thế kỷ XVIII), Chùa Bổ Đà là một trong những di tích lịch sử tiêu biểu của tỉnh Bắc Giang. Chùa có tên là chùa Quán Âm núi Bổ Đà hay Bổ Đà Sơn Quán Âm Tự, gọi tắt là chùa Bổ, còn có các tên gọi khác là chùa Quán Âm. Chùa Bổ là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ. Chùa có kiến trúc độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam, đó là lối kiến trúc “nội thông ngoại bế” tạo vẻ u tịch, thanh vắng và huyền thoại, xung quanh là đồi núi xóm làng bao bọc.
 Hành làn Tam Bảo chùa
Toàn bộ chùa chính có diện tích khoảng 51.784m2 được phân ra làm ba khu rõ rệt. Khu vườn: 31.000m2, khu nội tự chùa 13.000m2 và khu vườn tháp rộng: 7.784m2.
Kiến trúc của chùa gần một trăm gian liên hoàn được xây dựng  bằng các vật liệu dân gian: gạch nung, ngói, tiểu sành, tường bao được làm bằng đất rất độc đáo. Các bức tường, cổng và một số công trình khác được xây dựng hoàn toàn bằng đất nện theo lối chình tường.
Tường đất hai bên
Cổng vào chùa nền lát đá muối có kích thước to nhỏ khác nhau, xây theo kiến trúc thời Nguyễn mang dáng dấp gác chuông. Điểm đặc biệt ở đây là nhiều bức tường được xây bằng tiểu tạo vẻ rất trầm mặc, gần gũi với vùng thôn quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.  
 Vườn Tháp chùa
Đặc biệt vườn tháp chùa Bổ Đà được đánh giá là đẹp và lớn nhất Việt Nam. Vườn tháp được xây dựng theo những quy định riêng và rất chặt chẽ của thiền môn. Với gần 100 ngôi tháp được xếp hàng hàng, lớp lớp nơi tàng lưu xá lị, tro cốt nhục thân của các vị tăng ni.
Chỉ những người trong phái Sơn môn mới được an táng tại vườn tháp, tháp của Tăng hình bình cam lộ  trên đỉnh, tháp của ni trên ngọn có hình hoa sen. Đây là một trong những trung tâm lớn của dòng thiền Lâm Tế nên hằng năm đến kỳ “kiết hạ an cư”, có rất đông các vị tăng ni, tín đồ ở nhiều vùng khác nhau tập trung về đây tham thiền học đạo.
 Mộc bản kinh
Đặc biệt trong chùa còn lưu giữ bộ ván kinh Phật cổ nhất Việt Nam được khắc trên gỗ thị, tất cả có khoảng gần 2.000 tấm mộc bản của các bộ kinh như Lăng nghiêm chính mạch, Yết ma hội bản, Nam hải ký quy. Trải qua gần 300 năm, bộ kinh hiện nay vẫn còn khá nguyên vẹn, các bộ kinh được hình thành xuất phát từ ý tưởng của các vị tổ sư, Trọng tâm của bộ kinh nói đến nỗi khổ của con người và sự giải thoát, đó là những di vật Phật học đặc biệt quý giá để lại cho đời sau. 
Chùa Bổ Đà hiện nay còn lưu giữ được nhiều tài liệu quý hiếm có ý nghĩa cho việc nghiên cứu khoa học. Ở đây còn lưu giữ một kho tàng di sản Hán Nôm phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, ngoài những tấm bia đá, chuông đồng còn có hàng trăm cuốn kinh sách, luật giới nhà Phật.
 Bậc thềm lên chùa
 Phong cảnh yên tĩnh với hàng cây hai bên đường lên chùa
 Cây đa ngàn năm tuổi
 Hàng cây tre xanh cao trước cổng chàu
 Mái chùa cổ kính
 Vườn tháp chùa Bổ Đà
 Những bức tường đất tạo nên vẻ cổ kính của ngôi chùa
 Tam Bảo chùa Bổ Đà

 Các cột gỗ hành lang chùa
 Cửa sổ
 Mái ngói chùa
 Dọc hành lang chùa
 Kiến trúc chùa Bổ Đà
 Bộ ván kinh Phật cổ nhất Việt Nam được khắc trên gỗ thị
 Mộc bản Kinh chùa Bổ Đà
 Giếng nước cổ
 Gạch tường và những chiếc chum
 Ánh nắng xế chiều tại ngôi cổ tự
 Cổng ra vào rêu phong cổ kính
Theo Cẩm Vân (www.phatgiao.org.vn)
Admin #ĐQN tổng hợp.
Hôm nay 18/02/2016, Giá xăng giảm tiếp gần 1.000 đồng/lít từ 15h.

Giá xăng giảm tiếp gần 1.000 đồng/lít từ 15h hôm nay

ĐĂNG BỞI: BẮC GIANG QUÊ HƯƠNG TÔI 

Giá bán lẻ xăng RON 92 giảm 961 đồng/lít xuống mức tối đa 13.752 đồng/lít; xăng E5 giảm 942 đồng/lít xuống không vượt quá 13.321 đồng/lít. Giá các mặt hàng dầu giữ nguyên.

 



Từ đầu năm 2016 tới nay, giá xăng dầu trong nước đã giảm liên tiếp 4 lần.
Từ đầu năm 2016 tới nay, giá xăng dầu trong nước đã giảm liên tiếp 4 lần.
Liên bộ Công Thương - Tài chính vừa có công văn yêu cầu điều chỉnh giá giá xăng dầu trong nước. Theo đó, từ 15h, giá bán lẻ xăng RON 92 giảm 961 đồng/lít xuống mức tối đa 13.752 đồng/lít; xăng E5 giảm 942 đồng/lít xuống không vượt quá 13.321 đồng/lít.
Các mặt hàng dầu được yêu cầu giữ nguyên giá bán như hiện hành và sử dụng quỹ bình ổn 35-589 đồng/lít, kg. Cụ thể: giá dầu diesel không cao hơn 9.580 đồng/lít; dầu hoả không cao hơn 8.905 đồng/lít và dầu mazut không cao hơn 7.225 đồng/kg.
Theo tính toán của nhà điều hành, trong chu kỳ 15 ngày gần nhất, giá xăng thế giới có xu hướng giảm. Cụ thể, giá xăng thành phẩm RON 92 trung bình 15 ngày qua tại Singapore còn 40,5 USD/thùng; thấp hơn mức 45,25 USD của bình quân chu kỳ trước.
Trước đó, trong kỳ điều hành vào ngày 3/2, giá xăng RON 92 được điều chỉnh giảm 729 đồng/lít về mức giá không quá 14.713 đồng/lít, xăng sinh học E5 giảm 496 đồng/lít; dầu diesel giảm 627 đồng/lít; dầu hỏa giảm 483 đồng/lít; giá dầu mazut giảm 20 đồng/kg.
Mức trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với các mặt hàng xăng dầu được giữ như hiện tại.
Từ đầu năm 2016 tới nay, giá xăng dầu trong nước đã giảm liên tiếp 4 lần.
Theo cập nhật của trang Global Petrol Price, tính đến ngày 15/2, giá xăng trung bình của Việt Nam đang ở mức 0,7 USD/lít, thấp hơn khoảng 27% so với mức trung bình 0,96 USD/lít trên thế giới. Dù chỉ đứng ở vị trí thứ 37, nhưng giá xăng của Việt Nam vẫn cao hơn một số nước như Mỹ (0,52 USD/lít), Malaysia (0,42 USD/lít) hay Indonesia (0,61 USD/lít), Nga (0,46 USD/lít)…
Theo Phương Dung (Dân trí).
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Truy cập Fanpage Facebook để biết thêm chi tiết:

 https://www.facebook.com/BacGiangQueHuongToi.vn


ADMIN: #ĐQN
Tiến sĩ Đoàn Hương: Người Việt trẻ cần bớt sống ảo và nên học cách mưu sinh

Tiến sĩ Đoàn Hương: Người Việt trẻ cần bớt sống ảo và nên học cách mưu sinh

TRUY CẬP: https://www.facebook.com/BacGiangQueHuongToi.vn để biết thêm nhiều thông tin khác.

Tiến sĩ Khoa học Đoàn Hương đã chia sẻ những cảm xúc về người Việt trẻ, về lối chơi và những con đường để họ có thể lựa chọn.

Thưa Tiến sĩ, những tác động từ xã hội, từ báo chí, từ văn hóa hay là vì điều gì khiến bạn đọc trẻ lại thay đổi, họ sống gấp và thiếu chọn lọc? Họ đọc sách ít đi, thay vào đó là đọc những tin giật gân, hay lướt mạng xã hội.
Thế hệ trẻ ngày nay bị bủa vây bởi rất nhiều loại thông tin, như vậy họ sẽ cần có bộ lọc tin. Khi tin vào nhiều, những người có trí thức hoặc những người có văn hóa cao để lọc tin được thì người ta chỉ đọc những bài cần thôi.
Nhưng mà những bạn trẻ mà chưa có đủ văn hóa cần thiết, chưa có phông văn hóa lớn thì làm sao người ta lọc được, bạ cái gì người ta cũng nhét vào người. Giống như ăn vậy, những người có trình độ khoa học người ta ăn uống rất khoa học, họ nghĩ đến chất này chất kia nhưng đối với những người bình thường thì chỉ ăn lấy no thôi, bạ cái gì người ta cũng chén cả, những cái bị nhiễm độc người ta vẫn ăn vì nếu thấy ngon là người ta ăn. Phải thừa nhận rằng, mạng xã hội, tin giật gân… tất cả những điều đó tác động không hề nhỏ đến người trẻ.
Tôi đã đi nghiên cứu thế hệ trẻ qua các đề tài nhà nước của mình và phát hiện ra người trẻ hôm nay cũng rất thích những tin nghiêm túc và đứng đắn nhưng tin phải cực sâu, phải do các chuyên gia viết thì người ta nghe ngay.
Thế hệ trẻ Việt vẫn háo hức đi tìm những đề tài nghiêm túc vì bản thân tôi được Thành Đoàn và Trung ương Đoàn mời đi rất là nhiều buổi giảng dạy và nói chuyện với thanh niên của Hà Nội, thanh niên của cả nước.
Họ nói chuyện về những vấn đề thậm chí là lý tưởng cách mạng, về văn hóa sống, văn hóa ứng xử thanh niên vẫn rất say mê. Nhưng chúng ta đang thiếu những bài viết nói về vấn đề bạn đọc cần. Người ta cần vấn đề văn hóa sống chẳng hạn. Thí dụ trước những lúc khó khăn người ta phải làm thế nào?

Tiến sĩ khoa học Đoàn Hương
Tiến sĩ khoa học Đoàn Hương
Đối với tương lai, nhiều người trẻ bây giờ cũng hoang mang, không biết sẽ chọn nghề mưu sinh hay chọn nghề theo mơ ước!
Ở nước ngoài người ta dạy gì? Nếu thanh niên gặp khó khăn, tôi nói đơn giản thôi là nếu họ bị thất nghiệp tạm thời trong một giai đoạn nào đó, thì điều đầu tiên là người ta phải tìm ngay một việc để tồn tại rồi sau đó trong quá trình tồn tại ấy mới tiếp tục suy nghĩ đặt kế hoạch cuộc đời dài của mình để đạt được ước mơ.
Ở nước ngoài người ta không chọn lựa công việc, một thạc sĩ có thể đi bán vé xe buýt. Tôi đã gặp một thạc sĩ, anh này trước làm bưu điện nhưng khi đã có mạng, có email rồi tự nhiên thư tín chết, không ai người ta gửi thư viết tay nữa thì anh này thất nghiệp và anh ấy lại đi bán vé xe buýt. Khi anh đó gặp tôi vì muốn tôi giúp đỡ làm tiếp luận án tiến sĩ. Em có thấy không, đi bán vé xe buýt để tồn tại, nuôi vợ con và nuôi chính mình mà vẫn tiếp tục ước mơ.
Cuộc đời một con người phải thế, chứ nhiều bạn trẻ bây giờ cứ đòi là phải được công việc đúng chuyên môn. Đầu tiên là tồn tại đã rồi sau đó mới nuôi ước mơ của mình là hai điều mà con người luôn luôn phải làm.
Một vấn đề khác, có người cho rằng giới trẻ bây giờ họ dường như thiếu tinh tế và thiếu chiều sâu. Thế giới ảo tác động quá nhiều khiến nhiều bạn trẻ mất đi những phạm trù, như Tiến sĩ nói, phông văn hóa?
Không phải đâu. Thực ra là lỗi không phải tại kỹ thuật. Chính tôi cũng dùng mạng, phải cảm ơn mạng Internet vì giúp cho việc nghiên cứu của tôi đơn giản hơn rất nhiều. Thí dụ như trước đây tôi phải tiến hành những chuyến đi xa vất vả thì bây giờ tôi có thể ngồi nhà dự những cuộc họp, những hội thảo quốc tế mà chỉ thông qua mạng thôi. Rồi tôi làm việc với đồng nghiệp quốc tế thông qua mạng, chỉ có đi thực địa hay đi thực tế tôi mới phải đi.
Thế giới cũng dùng Facebook, cũng dùng mạng còn ghê gớm hơn mình nhưng họ không lấy đó làm điều xấu. Vấn đề của các bạn trẻ Việt hiện nay là nghiện Facebook, dành quá nhiều thời gian cho Facebook…
Mạng xã hội hẳn nhiên là con dao hai lưỡi, nó tác động vào đời sống tâm hồn của các bạn trẻ khá sâu đậm khiến họ nhiều khi bị ảo tưởng bản thân?
Mạng xã hội có hai mặt. Mặt tích cực của nó là tạo ra một cộng đồng rất lớn trên toàn thế giới để cho chúng ta có thể quan hệ, biết được suy tư, tình cảm của con người, của nhân loại. Rồi một mặt tích cực nữa là nó giúp chúng ta tập trung những người trẻ lại về một phong trào, chẳng hạn phong trào tình nguyện, phong trào hy sinh, phong trào thiện nguyện nào đó, tập trung rất nhanh.
Rồi thứ ba là nó giúp con người giải đáp những thắc mắc mà bản thân một mình anh không tìm thấy, anh có thể tìm thấy những người bạn ở đó. Nhưng mà bên cạnh đó thì nó lại có rất nhiều hệ lụy, vì nó là một thế giới ảo cho nên là nó dễ cho người hay ảo tưởng về mình.
Anh hùng bàn phím có những người nghĩ là mình nổi tiếng vì mình đã trở thành một người được Facebook hô hào, vì thế mới có những hiện tượng như Bà Tưng, Lệ Rơi. Tưởng là nổi tiếng nhưng đó thực sự là hiện tượng tai tiếng. Con người thực sự không ai sống bằng thế giới ảo được mà chúng ta phải sống trong thế giới thật, phải giúp đỡ những con người thật.
Có cách nào để thay đổi điều đó không ạ?
Muốn thay đổi điều đó thì vấn đề là văn hóa. Đây chính là văn hóa ứng xử. Con người ta phải có ứng xử đúng mực với cuộc sống và cái này thì chúng ta phải giáo dục cho thanh niên hôm nay.
Hai là vấn đề học tập. Thanh niên Việt Nam chúng ta hiện nay lười quá. Khi tôi sang dạy ở trường Đại học Khoa học Hoàng gia Úc, ở các trường đại học họ làm việc từ 8h sáng cho đến 10 giờ tối mới rời khỏi trường, kể cả sinh viên. Ngoài giờ lên lớp, người ta lên thư viện ngồi. Các lớp học thêm, bổ túc đại học cũng tồn tại ở đó cho đến 10 giờ đêm mới kết thúc. Vì thế cho nên ưu tiên thứ hai là học tập. Nếu bạn nào có bằng cử nhân rồi thì phải học lên thạc sĩ, tiến sĩ.
Thứ ba, đó là học ngoại ngữ, nếu không học ngoại ngữ chúng ta là người câm điếc trên thế giới.
Thứ tư là vấn đề văn hóa đọc và thứ năm là vấn đề rèn luyện thể lực. Đấy là 5 vấn đề ứng xử với bản thân mình. Nếu không có sức khỏe thì tất cả ước mơ của anh sẽ trở thành gạch lát âm phủ. 5 vấn đề ấy tôi cho là văn hóa. Một khi người ta đã đầu tư vào 5 vấn đề thì sẽ chẳng có thời giờ lướt Facebook và mạng nhiều nữa, trừ khi người ta nghiên cứu hoặc là trả lời bạn bè.
Bằng kinh nghiệm trong nghề giáo của mình, cô có lời khuyên nào dành cho các bạn trẻ, nên vừa học vừa chơi, nên tập trung hoàn toàn vào việc học khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hay nên vừa học vừa đi làm để có kinh nghiệm khi ra trường?
Tôi nghĩ rằng là sinh viên nên tranh thủ đi làm thêm, nhưng nếu làm được những việc phù hợp với chuyên môn của mình thì tốt. Ví dụ dân báo chẳng hạn, đi đến các toà soạn làm thêm. Họ vừa được kinh nghiệm để tích lũy, vừa mở mang học hành.
Các cụ nói “học đi đôi với hành”, ta vừa có thể “hành’ được vừa có thêm một số thu nhập thì tôi nghĩ đó là tốt nhất. Sinh viên nước ngoài người ta vẫn đi làm thêm, chẳng có vấn đề gì.
Cảm ơn Tiến sĩ.
Theo Ngọc Đinh (Lao động)
Admin #ĐQN Tổng hợp